Giới thiệu chung

Cách đây vừa tròn 50 năm, ngày 6 - 10 -1969 Công ty Điện Lực, tiền thân của Tổng Công ty điện lực miền Bắc ngày nay được thành lập theo quyết định số 106/QĐ - TC của Bộ trưởng Bộ Điện và Than nước Việt Nam Dân chủ Công hòa nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Chính Phủ về cải tiến quản lý kinh tế, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế.

Như vậy, kể từ đây Công ty Điện lực chính thức ra đời, hoạt động với đầy đủ tư cách pháp nhân và là một trong những công ty quốc doanh lớn nhất miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Việc chuyển đổi mô hình từ một Cục quản lý nhà nước sang hình thái sản xuất kinh doanh theo chế độ hạch toán độc lập, đồng thời làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trên lĩnh vực điện năng ở phía Bắc, đây là một bước chuyển hóa quan trọng về cơ chế, không những tạo ra một bước phát triển mới gắn sản xuất kinh doanh, mà đây còn là một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành điện lực ở Việt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ của Công ty Điện lực là: "...tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất, kế hoạch kinh doanh của Công ty do Bộ giao, đảm bảo hoàn thành kế hoạch một cách toàn diện, với năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành hạ, kinh doanh có lãi..." và "...chỉ đạo trực tiếp và quản lý về mọi mặt các đơn vị sản xuất, phân phối, sửa chữa điện thuộc Công ty, tạo mọi điều kiện cho đơn vị thành viên hoạt động sản xuất - kinh doanh thuận lợi theo đúng chế độ, thể lệ quản lý kinh tế của Nhà nước và của Bộ". Đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt từ khi ra đời, trưởng thành và phát triển của Công ty Điện lực trước đây và cũng là Tổng Công ty Điện lực miền Bắc hiện nay từ những ngày đầu thành lập, trong bối cảnh nguồn điện và lưới điện cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị thuộc thế hệ cũ, lạc hậu, trình độ tự động hóa thấp, chủ yếu vận hành bằng phương pháp thủ công, hơn nữa lại bị ảnh hưởng do chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề. Trước tình hình đó, Công ty đã tập trung huy động mọi nguồn lực, tận dụng khả năng, trí tuệ của tập thể cán bộ, công nhân viên, đồng thời tranh thủ thời gian đế quốc Mỹ "tạm ngừng ném bom miền Bắc", Ban lãnh đạo Công ty đã chỉ đạo khẩn trương khôi phục sản xuất, củng cố các mặt quản lý, sắp xếp lại tổ chức, chuẩn bị các điều kiện vật chất - kỹ thuật để vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, vừa xây dựng và mở rộng công trình điện mới có công suất và sản lượng lớn hơn, hiện đại hơn, đáp ứng được nhu cầu trước mắt và chuẩn bị đón nhận những thời cơ, thách thức mới.

Trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều nhà máy điện và các trạm biến áp đầu mối bị đánh phá ác liệt như nhà máy điện Vinh (Nghệ An), nhà máy điện Thượng Lý (Hải Phòng), nhà máy điện Uông Bí (Quảng Ninh), nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội), nhà máy điện Thác Bà (Yên Bái), nhà máy điện Thanh Hóa... Trong đó, giai đoạn đánh phá ác liệt nhất miền Bắc xã hội chủ nghĩa là năm 1972. Tháng 6 -1972, nhà máy điện Uông Bí, nhà máy điện Vinh bị đánh phá tới 6 lần. Cuối tháng 12 - 1972, lại diễn ra cuộc đọ sức khốc liệt nhất trong vòng 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không", Công ty Điện lực lại chứng minh bằng thực tế "giữ vững dòng điện, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Qua hai đợt đánh phá miền Bắc, các cơ sở của Công ty Điện lực phải đương đầu với 1634 trận đánh phá, nhưng với tinh thần "vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu", Công ty đã tập trung trí tuệ và sức lực của cán bộ công nhân viên để củng cố và tổ chức lại sản xuất, chấn chỉnh các khâu kinh doanh, phân phối điện, làm tốt việc điều hòa phụ tải, tốc chiến tốc thắng khôi phục các cơ sở điện bị tàn phá do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đã khôi phục xong về cơ bản nguồn điện (các nhà máy điện) và hoàn thành hệ thống lưới điện, đảm bảo dòng điện vận hành liên tục. Đến cuối năm 1973, đã đưa 12 lò hơi, 11 tổ máy vào vận hành nâng công suất lên 231MW, phục hồi được 186km đường dây cao thế, toàn bộ đường dây hạ thế, 12 trạm biến áp 110kV và các trạm trung gian, sản lượng điện được cải thiện rõ rệt, đưa dòng điện đến mọi cơ sở sản xuất và phục vụ đời sống của nhân dân miền Bắc.

Với lòng quả cảm vì Tổ quốc cần điện như cơ thể cần máu, nhiều tấm gương đã anh dũng hy sinh vì mục tiêu Giữ vững dòng điện trong mọi tình huống, sau hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã có 123 cán bộ, công nhân viên của Công ty đã anh dũng hy sinh vì dòng điện thân yêu.

Đất nước thống nhất, những ngày đầu vừa thoát khỏi chiến tranh khó khăn chồng chất, Công ty Điện lực có nhiệm vụ hết sức nặng nề, vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, vừa phải san sẻ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công nhân lành nghề vào tiếp quản các cơ sở vật chất của ngành điện lực ở miền Nam. Công ty đã hỗ trợ và chi viện tối đa cho miền Nam với việc lựa chọn cán bộ giỏi, công nhân viên có tay nghề cao đề cử vào giúp đỡ khôi phục nhà máy thủy điện Đa Nhim và đường dây 230kV Đa Nhim - Sài Gòn, điều phối lực lượng cán bộ công nhân trong các cơ sở điện lực miền Bắc chuyển vùng, chuyển nhiệm vụ, hình thành đội ngũ cán bộ nòng cốt cho Công ty Điện lực miền Nam (tiền thân của Tổng Công ty Điện lực miền Nam hiện nay và công ty Điện lực miền Trung (tiền thân của Tổng Công ty Điện lực miền Trung ngày nay).

Năm 1976, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, ngành điện lực Việt Nam được chia thành ba công ty Điện lực quản lý tương ứng với ba miền Bắc – Trung – Nam gồm: Công ty Điện lực miền Bắc (tiền thân là Công ty Điện lực), Công ty Điện lực miền Nam và Công ty điện lực miền Trung trực thuộc Bộ Điện và Than.

Thực hiện Kế hoạch 5 năm 1976 – 1980, Công ty Điện lực miền Bắc chủ trương khôi phục, củng cố hoàn chỉnh, mở rộng các cơ sở điện sẵn có. Chỉ đạo sát sao việc khảo sát, thi công nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy thủy điện Hòa Bình; khôi phục hoàn chỉnh các trạm 110 kV, xây dựng mới đường dây 220 kV đầu tiên ở miền Bắc, tiếp tục mở rộng lưới điện phân phối, cải tạo lưới điện hạ thế của các thành phố lớn, đặc biệt là ở Thủ đô Hà Nội. Với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Công ty, đến cuối năm 1980, tổng công suất đã đạt 590,4 MW; đường dây điện các cấp điện áp từ 3 kV đến 110  kV có 9.286,5 km; tổng dung lượng máy biến áp các loại là 2560 MVA. Về phụ tải, công suất sử dụng của công nghiệp Trung ương tăng hơn 1,6 lần, của công nghiệp Địa phương tăng hơn 1,4 lần; công suất sử dụng cho bơm thủy lợi tăng 1,2 lần so với năm 1976.

Năm 1981, Bộ Điện lực được thành lập theo Nghị Định số 170 – CP ngày 23 – 4 - 1981 của Hội đồng chính phủ. Theo Quyết định số 15 DL1/TCCB ngày 9 - 5 - 1981, Công ty Điện lực miền Bắc được điều chuyển từ Bộ Điện và Than về trực thuộc bộ Điện lực và Công ty Điện lực miền Bắc được đổi tên thành Công ty Điện lực 1. Các sở quản lý phân phối điện khu vực được đổi thành các cơ sở điện lực tỉnh, thành phố.

Cũng trong giai đoạn này, thực hiện nghị quyết số 149/CT thống nhất quản lý lưới điện quốc gia của Chính phủ, trong năm 1981, Công ty Điện lực 1 bắt đầu tiếp nhận các lưới điện và các tổ chức quản lý lưới điện đấu nối với lưới điện quốc gia như Thái Bình, Hải Dương, Hà Tuyên... và các lưới điện phụ tải đang do các địa phương quản lý (hầu hết các tỉnh đều có). Tiếp theo đó từ năm 1988 - 1990, tiếp nhận các tổ chức và lưới điện của các địa phương nằm ngoài hệ thống như Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu và tiếp nhận hầu hết các tổ chức quản lý điện của các huyện trên miền Bắc.

Năm 1987, Bộ Năng Lượng được thành lập theo Nghị định số 47/HĐBT ngày 5 – 3 - 1987 của Hội đồng Bộ trưởng (trên cơ sở sáp nhập các Bộ Điện lực với Bộ Mỏ và Than), Công ty Điện Lực 1 là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Bộ Năng lượng.

Trong bối cảnh Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Nhà nước tiến hành mở cửa và hội nhập trên hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội, cùng với đó là sự phát triền vượt bậc của khoa học và công nghệ đã tạo ra rất nhiều cơ hội để phát triển đồng thời cũng là những thách thức to lớn đối với Công ty Điện lực 1. Năng lực của công ty vốn đã không đáp ứng yêu cầu sử dụng điện của khu vực phía Bắc trước đây, nay càng trở nên bất cập so với công cuốc đổi mới, bộc lộ các mặt hạn chế cả về năng lực phục vụ lẫn khai thác kinh doanh. Nhận thức rõ về vị trí, chức năng quan trọng của mình, tập thể lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty đã đoàn kết, năng động, vận dụng sáng tạo, nắm bắt được thời cơ mà công cuộc đổi mới mang lại, trên tinh thần: Điện lực phải đi trước một bước. 

Thành tựu nổi bật của thời kì này được mở đầu bằng việc đưa 4 tổ máy (440 MW) của nhà máy nhiệt điện Phả Lại vào vận hành an toàn, đảm bảo ổn định cho hệ thống, tránh được tình trạng “ăn đong” về công suất, nâng sản lượng điện lên hàng tỷ kWh (năm 1986 sản xuất đạt sản lượng 2,759 tỷ kWh, tăng hơn 7,06% so với năm 1985; năm 1987, đạt 3,06 tỷ kWh; năm 1988, sản xuất đạt 3,870 kWh...)

 Sau nhiều năm thi công và khẩn trương xây dựng, đến cuối tháng 12 -1988, tổ nhà máy số 1 của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình được đưa vào vận hành an toàn, liền sau đó hàng năm đưa thêm từ 1 đến 2 tổ máy khác vào hoạt động, tăng thêm 20% sản lượng điện, tạo sự chuyển biến về chất của hệ thống điện miền Bắc.

 Năm 1990, Công ty đã đưa điện về phục vụ miền Trung, đẩy lùi giải quyết một phần lớn tình trạng thiếu điện của khu vực này. Thực hiện nghị quyết số 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về chủ trương điện phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa miền núi, Công ty đã xây dựng và đưa vào vận hành đường dây 110kV Thái Nguyên – Cao Bằng , trạm 110kV Tuyên Quang (năm 1990), các đường dây Mộc Châu – Mai Châu, Cẩm Phả - Tiên Yên và trạm 110 kV Tiên Yên..., nhờ đó đã đưa điện lưới điện quốc gia (lưới 110kV) đến các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Năm 1995, cùng với sự ra đời của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Công ty Điện lực 1 được chuyển từ Bộ Năng Lượng về trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam từ ngày 1-5-1995, theo Quyết định số 96 NL/TCCB-LĐ ngày 4-3-1995 của Bộ Năng Lượng. Chức năng quản lý Nhà nước về điện cũng được chuyển giao về Bộ Công nghiệp và các sở công nghiệp tại các địa phương; đồng thời mốt số đơn vị trực thuộc Công ty Điện lực 1 như: các nhà máy phát điện Hòa Bình, Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình, Thác Bà,... Sở Điện lực Hà Nội , Sở truyền tải điện, Trung tâm Máy tỉnh, Trung tâm Thông tin, Ban Quản lý dự án lưới điện miền Bắc đã được tách khỏi Công ty về trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam. Các sở điện lực tỉnh, thành phố được đổi tên thành các Điện lực tỉnh. Công ty chuyển sang một giai đoạn mới, thực hiện cơ chế: kinh hoanh điện năng và phát triển lưới điện trên miền Bắc, với địa bàn quản lý rộng lớn trên miền Bắc, chủ yếu là vùng đồng bằng, nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa,...

Có thể nói từ giai đoạn này trở đi Công ty Điện lực 1 hoàn thành vai trò sứ mệnh lịch sử của mình đó là về cơ bản đã xây dựng và hoàn thiện khép kín hệ thống điện miền Bắc Việt Nam, bàn giao sứ mệnh phát tải cho Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, Công ty chỉ còn thực hiện nhiệm vụ chính là phân phối điện năng. Thực hiện đào tạo một đội ngũ cán bộ công nhân viên có bản lĩnh chính trị vận hành hệ thống điện. Đồng thời cũng là nơi cung cấp đội ngũ cán bộ cho ngành Điện lực Việt Nam. Một lần nữa thực tế đã khẳng định vai trò của Công ty Điện lực 1 là “chiếc nôi” của ngành Điện lực Việt Nam.

Giai đoạn từ năm 1996 – 2010, là giai đoạn bản lề sau những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của đảng, Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Công ty Điện lực 1 đã không ngừng thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh kết hợp với việc phát động các phong trào thi đua sâu rộng, các phòng trào thi đua đã tạo ra sức lan tỏa rất lớn góp phần để Công ty hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và cung ứng điện năng. Công ty luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, kế hoạch của từng năm, đồng thời không ngừng bổ sung đầu tư mới hệ thống lưới điện, chống quá tải, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của ngành điện, phục vụ tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt từ 10,3 – 13%.

Năm 2010 đã đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử hình thành và phát triển của Công ty, với sự ra đời của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc theo quyết định số 0789/QĐ – BTC ngày 5-2-2010 của Bộ Công Thương. Tổng Công ty Điện lực miền Bắc được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực 1 và tiếp nhận trở lại các Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng, Hải Dương và Nình Bình. Tổng Công ty được tổ chức theo hình thức Công ty TNHH MTV và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức từ mô hình Công ty điện lực 1 thành Tổng Công ty Điện lực miền Bắc là một ghi nhận và đánh dấu 1 bước chuyển biến lớn trong sự nghiệp phát triển của Tổng công ty cả về lượng và về chất – đây là mô hình ổn định, lâu dài và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước cùng như tình hình phát triển của thế giới, như lời phát biểu của đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại buổi Lễ ra mắt Tổng Công ty Điện lực miền Bắc ngày 1-4-2010.

Ngay sau khi đi vào hoạt động theo mô hình tổ chức mới, Tổng Công ty đã nhanh chóng bắt tay vào công tác sắp xếp cơ cấu tổ chức, kiện toàn bộ máy quản lý đạt nhiều bước tiến quan trọng theo tinh thần tinh giản, gọn nhẹ, chuyên nghiệp, lấy hiệu quả công việc ra làm thước đo, lấy khách hàng làm đối tượng phục vụ với tiêu chí “Tổng Công ty Điện lực miền Bắc vì sự phát triển của cộng đồng”.

Năm 2010, với sự ra đời của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực 1 và tiếp nhận trở lại các Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng, Hải Dương và Ninh Bình. Tổng Công ty Điện lực miền Bắc được tổ chức theo hình thức Công ty TNHHMTV và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-Công ty con. Việc chuyển đổi mô hình đánh dấu một bước trưởng thành lớn trong sự phát triển của Tổng Công ty cả về lượng và chất, đáp ứng xu thế phát triển của nền kinh tế.

Giai đoạn 2010-2014, EVNNPC thực hiện các chương trình, mục tiêu lớn mà Đảng và Chính phủ giao, đó là thực hiện tiếp nhận toàn bộ lưới điện hạ áp khu vực nông thôn, trực tiếp bán điện đến các hộ dân, đảm bảo người dân được hưởng giá bán điện theo đúng quy định của Chính phủ; thực hiện chương trình đưa điện đến các thôn bản, miền núi, biên giới và hải đảo phục vụ đời sống nhân dân góp phần tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm cấp điện cho các khu công nghiệp lớn ở Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Nghệ An, HàTĩnh…

Giai đoạn 2014 - 2018, thực hiện “Tối ưu EVNNPC hóa chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” và “Năng suất và hiệu quả”, “Đẩy mạnh Khoa học công nghệ”, chú trọng công tác quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng tầm thương hiệu.

Để nâng cao năng suất lao động, EVNNPC chỉ đạo rà soát, xây dựng lại định biên lao động của các đơn vị SXKD điện, sắp xếp lại số lao động theo công việc khoa học hơn, bố trí lại lao động, giảm thiểu tình trạng thừa - thiếu cục bộ đáp ứng yêu cầu thực tế trong điều kiện không tăng lao động; sắp xếp, bố trí lại lực lượng lao động gián tiếp để tiết kiệm lao động. Phân định rõ lực lượng lao động giữa các lĩnh vực SXKD để đảm bảo hiệu quả công việc. Cùng với việc sắp xếp lao động theo chiều hướng nâng cao năng suất lao động, EVNNPC triển khai thực hiện công tác hiện đại hóa lưới điện, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý vận hành lưới điện và kinh doanh bán điện…, nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ quản lý nhân sự trên máy tính (HRMS).

EVNNPC là đơn vị dẫn đầu toàn ngành về công tác điện nông thôn. Tính đến 31-12-2018, số huyện có điện 247/247 huyện, đạt tỷ lệ 100%; 5.032/5.032 xã có điện lưới quốc gia, đạt tỷ lệ 100% và 7.773.928 7.8898.983 / hộ dân nông thôn có điện lưới quốc gia, đạt tỷ lệ 98.3%.

EVNNPC luôn là đơn vị có tốc độ tăng thương phẩm và doanh thu cao nhất trong EVN với mức tăng trưởng điện thương phẩm bình quân hàng năm của các Công ty Điện lực tăng từ 12 đến hơn 14%. Sản lượng điện thương phẩm năm 2018 đạt 64,27 tỷ kWh với tốc độ tăng trưởng 12,1% , vượt 370 triệu kWh so với kế hoạch giao; sản lượng điện thương phẩm khối Công nghiệp Xây dựng chiếm tỷ trọng 65,02%, tăng trưởng 13,43% tương ứng 4,95 tỷ kWh; sản lượng điện thương phẩm khối quản lý tiêu dùng chiếm tỷ trọng 28,51%, tăng trưởng 8,19% tương ứng 1,4 tỷ kWh. Công tác quản lý áp giá bán điện thực hiện theo dõi và quản lý trên hệ thống máy tính đảm bảo việc quản lý giá điện chặt chẽ, khoa học và đúng thành phần. Giá bán điện bình quân hàng năm đều tăng (không tính tới yếu tố tăng giá do Nhà nước thay đổi giá bán điện).

Thủ tục cấp điện cho khách hàng đấu nối lưới trung áp của ngành điện năm 2014 gồm 5 bước, thời gian giải quyết 36,89 ngày, đến năm 2018, EVNNPC rút ngắn còn 2 bước với thời gian giải quyết dưới 6 ngày, góp phần đưa chỉ số tiếp cận điện năng của EVN tăng 129 bậc, từ vị trí 156 lên vị trí 27, và là chỉ số có sự cải thiện tốt nhất năm 2018 trong các chỉ số môi trường kinh doanh của Việt nam, tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và xã hội, đưa Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia ASEAN- 4, đạt mục tiêu đặt ra của Chính phủ đến 2020.

Trong xu thế phát triển hiện nay, việc nâng cao chất lượng các dịch vụlà chủ trương chung mà các doanh nghiệp cùng hướng tới. Theo đó, EVNNPC xác định việc cải cách hành chính trong công tác phục vụcác dịch vụkhách hàng là một trong những vấn đề trọng tâm nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng về chất lượng phục vụcác dịch vụcủa Ngành điện với phương châm “dễ tiếp cận - dễ tham gia - dễ giám sát”.

EVNNPC chỉ đạo các Công ty Điện lực báo cáo UBND tỉnh cho phép cung cấp dịch vụđiện tại các trung tâm hành chính công của tỉnh hoặc trên cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến, đến tháng 12- 2018 toàn bộ 15 tỉnh có trung tâm hành chính công trên địa bàn EVNNPC quản lý đã thực hiện việc tiếp nhận, cung cấp dịch vụđiện trực tiếp và 12 tỉnh chưa có Trung tâm hành chính công, các Công ty Điện lực đã triển khai việc tiếp nhận, cung cấp dịch vụđiện trên cổng thông tin dịch vụcông trực tuyến, hoàn thành 100% chỉ tiêu EVN giao. Trong năm 2018 đã tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của khách hàng qua trung tâm hành chính công và cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến.

EVNNPC đồng thời triển khai cơ chế một cửa liên thông trong việc cấp điện cho khách hàng đấu nối lưới trung áp theo Nghị quyết 19 của Chính Phủ; thực hiện 14 chỉ tiêu dịch vụ khách hàng năm sau tốt hơn năm trước, thời gian trung bình giải quyết yêu cầu đều đạt so với quy định; các Công ty Điện lực triển khai áp dụng có hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin, như: Sử dụng máy tính bảng để phát triển khách hàng, ghi chỉ số và chấm xóa nợ, ký kết với các đối tác thu hộ tiền điện để nâng cao hiệu thanh toán tiền điện của khách hàng qua cổng thanh toán điện tử, ứng dụng hiệu quả chương trình nhắn tin chăm sóc khách hàng...

Từ năm 2014 đến 2018, kinh tế vĩ mô ổn định hơn, tăng trưởng kinh tế có bước phục hồi, lạm phát được kiểm soát, lãi suất huy động và cho vay giảm; Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều khó khăn; năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu tăng chậm; số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoặc thu hẹp hoạt động còn lớn. Năm 2015 xuất hiện những đợt nắng nóng kéo dài gây quá tải trầmtrọng hệ thống phân phối điện tại nhiều khu vực, nhu cầu sử dụng điện trong công nghiệp tăng cao đột xuất ởmột số địa bàn Tổng công ty quản lý, tỷ giá hối đoái về cuối năm tăng cao làm tăng chênh lệch tỷ giá... Năm 2016, 2017, 2018 tăng trưởng điện khu vực miền Bắc ở mức cao, tình hình thiên tai, biến động bất thường của thời tiết, trong đó có nhiều cơn bão và mưa lũ gây thiệt hại nặng nề cho hệ thống điện miền Bắc, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và cung ứng điện cho khách hàng. Việc thu xếp vốn đầu tư các dự án điện gặp khó khăn.

Trước những khó khăn chung của nền kinh tế trong nước cũng như ngoài nước, EVNNPC đã luôn bám sát tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị để đưa ra những định hướng chung sát với thực tế, chỉ đạo kiên quyết, triệt để, kịp thời, toàn diện các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đã hoàn thành vượtmức các chỉ tiêu so với kế hoạch EVN giao,mang lại lợi nhuận cao.

Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, sản lượng điện công nghiệp giảm mạnh, EVNNPC điều hành phương thức vận hành lưới điện hợp lý, đưa ra các giải pháp kỹ thuật để giảm tình trạng quá tải cục bộ, giảm tỷ trọng giờ cao điểm, tăng tỷ trọng giờ thấp điểm, vừa giảm chi phí mua điện vừa giúp san bằng đồ thị phụ tải của hệ thống; thay công tơ sau tiếp nhận, tăng cường công tác quản lý hệ thống đo đếm,vận hành hợp lý. Xác định tầm quan trọng của công tác đầu tư xây dựng phục vụ SXKD, tạo cơ sở phát triển khách hàng, tăng doanh thu và giá bán, trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp, địa bàn kinh doanh rộng lớn với nhu cầu đầu tư cao, EVNNPC đã tập trung đầu tư có trọng tâm trọng điểm vào các danh mục hiệu quả, có khả năng thu được lợi nhuận cao như chống quá tải lưới điện đặc biệt là lưới điện 110kV, cấp điện cho các khách những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng về chất hàng công nghiệp, cải tạo tối thiểu lưới điện hạ áp nông thôn sau tiếp nhận,….

Từ cuối năm 2015, EVNNPC đã xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm chăm sóc khách hàng với Tổng đài 19006769 hoạt động 24/7 để cung cấp thông tin và giải đáp, hướng dẫn khách hàng sử dụng điện trên địa bàn 27 tỉnh miền Bắc. Việc thành lập Trung tâm chăm sóc khách hàng đảm bảo cho EVNNPC tiếp nhận các ý kiến, hỗ trợ khách hàng trong quá trình sử dụng điện, tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng khi tiếp xúc với ngành điện cũng là một trong những thành công trong quá trình nỗ lực nâng cao chất lượng các dịch vụ điện.

Năm 2015, NPC thực hiện phát hành hóa đơn EVN điện tử; năm 2017, đưa các dịch vụđiện trực tuyến vào hoạt động; năm 2018, đưa các dịch vụthanh toán tương đương cấp độ 4. Tính đến hết tháng 9- 2018, 27 Công ty Điện lực ở khu vực phía Bắc đã chuyển đổi, vận hành chính thức hệ thống CMIS 3.0, hoàn thiện hệ thống báo cáo và bổ sung chức năng phần mềm CRM, nâng cấp cổng thanh toán điện tử, trang bị hệ thống dự phòng Tổng đài chăm sóc khách hàng, trang bị HSM và phần mềm quản lý chữ ký số nội bộ.

Thực hiện chương trình lan tỏa “Hành trình văn hoá EVNNPC” và “Khách hàng là trung tâm” đạt được những kết quả bước đầu, tạo được những chuyển biến tích cực về nhận thức, tư duy đổi mới và phong cách làm việc hướng đến chuyên nghiệp, hiệu quả của đông đảo CBCNV, tạo được sự thay đổi nhận thức và phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ở nhiều đơn vị. Trong giai đoạn này, EVNNPC đã thực sự chuyển mình, nâng tầm thương hiệu, giữ trọn niềm tin của khách hàng, xứng đáng với khẩu hiệu “Vì niềm tin của bạn”.

50 năm lịch sử xây dựng và phát triển của EVNNPC cũng chính là 50 năm trường kỳ công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và góp phần tái thiết đất nước sau giải phóng miền Nam. Các thế hệ EVNNPC đã nỗ lực “giữ dòng điện như dòng máu của mình”, đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương, tạo thành sức mạnh tổng hợp, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên những trang lịch sử hào hùng nước Việt. Sức mạnh ấy vẫn tiếp tục được phát huy trong công cuộc phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.

Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, thử thách lớn đối với hoạt động sản xuất-kinh doanh điện do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, khủng hoảng kinh tế…nhưng các thế hệ EVNNPC vẫn quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụmà Đảng, Nhà nước tin tưởng giao phó, đó là, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế-xã hội và đời sống của nhân dân với chất lượng ngày càng tốt, dịch vụkinh doanh bán điện ngày càng chuyên nghiệp và hoàn hảo. 50 năm qua, dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, EVNNPC đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh “tiên phong” mà Đảng và Nhà nước giao phó.